LIÊN KẾT DOANH NHÂN TIỀN GIANG
Tiền Giang: Hướng đến nền nông nghiệp giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững

Năm 2013, ngành Nông nghiệp Tiền Giang đã nỗ lực phát triển ổn định trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng. Năm 2014 ngành Nông nghiệp quyết tâm vượt khó, hướng tới xây dựng nền nông nghiệp giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững trên cơ sở thực hiện tái cơ cấu ngành gắn với xây dựng nông thôn mới.

Đạt được kết quả khả quan

Theo số liệu đến cuối năm 2013 của Sở Nông nghiệp và PTNT, giá trị tăng thêm nông – lâm – ngư nghiệp của tỉnh theo giá cố định năm 94 đạt 5.630,35 tỷ đồng, tăng 4,6% so năm 2012; nếu tính theo giá cố định năm 2010 giá trị tăng thêm nông – lâm – ngư nghiệp của tỉnh đạt 18.754,26 tỷ đồng, tăng 4,5% so năm 2012.

Đạt được kết quả khả quan này, các đơn vị chức năng đã chỉ đạo cán bộ kỹ thuật kiểm tra thường xuyên đồng ruộng, thực hiện tốt công tác dự báo, thông tin kịp thời các đối tượng dịch hại và có biện pháp quản lý hữu hiệu dịch bệnh trên cây lúa. Hướng dẫn khung thời vụ xuống giống phù hợp với điều kiện của từng địa phương, từ đó giúp năng suất lúa năm 2013 ước đạt bình quân 57,24 tạ/ha, cao hơn so với 56,75 tạ/ha năm 2012. Công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật liên tục được triển khai và đổi mới; từ đó trình độ nhận thức của bà con nông dân về kỹ thuật canh tác, về bảo vệ thực vật cũng như cách ứng phó trong công tác bảo vệ cây trồng ngày càng được nâng cao,… Theo số liệu thống kê, diện tích xuống giống lúa năm 2013 đạt 235.625 ha, đạt 100,28% kế hoạch; sản lượng đạt 1.348.716 tấn, đạt 102,83% kế hoạch.

Các tiến bộ khoa học kỹ thuật được nông dân trồng lúa tiếp tục áp dụng cho hiệu quả cao như: “3 giảm 3 tăng” chiếm 80% tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái; xuống giống theo lịch thời vụ tập trung, đồng loạt né rầy đạt trên 90% diện tích gieo trồng; sạ thưa, sạ lúa bằng nông cụ sạ hàng đạt 65,4%; bón phân theo bảng so màu lá lúa chiếm tỉ lệ 68%, tăng 2% so với cùng kỳ năm ngoái; tỷ lệ sử dụng giống lúa cấp nguyên chủng và xác nhận là 53,7%, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, cơ giới hóa khâu làm đất, bơm tát chiếm 100% diện tích, thu hoạch và sau thu hoạch lúa tăng đáng kể. Hiện toàn tỉnh có 530 máy gặt đập liên hợp, tăng 27 máy so với cùng kỳ năm ngoái, ước tính tỉ lệ thu hoạch bằng máy chiếm 76% diện tích gieo trồng, tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái; có 77% sản lượng lúa toàn tỉnh áp dụng hình thức sấy.

Trên cây màu và cây ăn trái, nhiều chương trình chuyển giao kỹ thuật cho nông dân đã giúp cho nông dân nhận thức tốt hơn về thời gian cách ly, chuyển sang sử dụng các nhóm thuốc có nguồn gốc hữu cơ, sinh học để canh tác và phòng trị dịch hại; ý thức được tác hại của việc lạm dụng hóa chất đến sức khỏe con người và cộng đồng, cung cấp cho thị trường những sản phẩm tương đối an toàn hơn so với trước đây.

Thông qua biện pháp thông tin trên các phương tiện truyền thanh, truyền hình, các cuộc tập huấn về quy trình quản lý bệnh chổi rồng, công tác ra quân cắt tỉa cành và phun thuốc trừ nhện trên cây nhãn cũng như các mô hình trình diễn hiện nay nông dân ngày càng nhận thức hơn về tầm quan trọng của việc cắt tỉa cành bệnh và áp dụng theo quy trình. Bên cạnh đó cùng với các cuộc tập huấn hướng dẫn biện pháp quản lý sâu đục trái bưởi, bệnh đốm nâu trên thanh long, và một số mô hình được triển khai đã giúp nông dân hiểu biết hơn và ngày càng nhận thức trong việc quản lý theo hướng tổng hợp.

Trước tình hình dịch bệnh trên chăn nuôi diễn biến phức tạp, bệnh cúm A H5N1, bệnh lở mồm long móng một số huyện trên địa bàn tỉnh,… Sở đã tập trung chỉ đạo và phát huy tối đa nguồn nội lực để giữ vững, phát triển chăn nuôi và góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng theo phương châm “Phát hiện sớm, báo cáo nhanh, xử lý kịp thời và không để dịch lây lan trên diện rộng”. Năm 2013, tổng đàn heo toàn tỉnh 584.163 con, đạt 101,09% kế hoạch; tổng đàn bò là 76.462 con, đạt 105,51% kế hoạch; đàn gia cầm 7,194 triệu con, đạt 105,65% kế hoạch.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện còn có một số khó khăn, hạn chế. Dịch bệnh cây trồng, vật nuôi luôn diễn biến phức tạp như: dịch lở mồm long móng, cúm gia cầm, bệnh chổi rồng, bệnh trên tôm, nghêu… gây thiệt hại không nhỏ cho nông – ngư dân, trong khi đó tỷ lệ tiêm phòng dịch bệnh còn thấp.

Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân sử dụng nước tiết kiệm, giữ gìn vệ sinh nguồn nước chưa được các ngành, các cấp thực hiện một cách thường xuyên và sâu rộng trong nhân dân. Đặc biệt là ở vùng ngọt hóa Gò Công, vùng Bảo Định thường xảy ra tình hình ô nhiễm nguồn nước. Khả năng luân chuyển nước trên các kênh dẫn chưa được tốt do một số kênh trục bị bồi lắng.

Các cơ sở sản xuất, kinh doanh nông, thủy sản cho thấy còn gặp nhiều khó khăn như: nguồn nhân lực; cơ sở vật chất còn nhỏ lẻ, sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống, vốn đầu tư thấp nên việc thực hiện cơ sở đủ điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm khó khắc phục theo yêu cầu trong thời gian ngắn.

Xây dựng nền nông nghiệp giá trị gia tăng cao

Năm 2014, sản xuất nông nghiệp được dự báo vẫn tiếp tục gặp khó khăn. Thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp, dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi sẽ có thể xảy ra, giá đầu vào của sản xuất vẫn tăng liên tục sẽ đẩy giá thành lúa gạo tăng, nhưng giá xuất khẩu sẽ không tăng vì thị trường tiêu thụ chậm, nguy cơ lạm phát cao,… Tất cả các yếu tố trên tác động không nhỏ đến sản xuất, đời sống nông hộ cũng như tăng trưởng và phát triển bền vững của ngành trong năm 2014.

Tuy nhiên, ngành Nông nghiệp tỉnh vẫn quyết tâm vượt qua khó khăn, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững trên cơ sở thực hiện tái cơ cấu ngành gắn với xây dựng nông thôn mới. Năm 2014, phấn đấu giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm ngư nghiệp và thủy sản tăng 4 – 4,3% so với năm 2013.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, phấn đấu đàn heo toàn tỉnh đạt 578.000 con, đàn bò 72.500 con, đàn gia cầm 7.092.000 con; diện tích rừng năm 2014 đạt 4.805 ha; diện tích nuôi thủy sản đạt 15.010 ha, tổng sản lượng 230.600 tấn; trong đó sản lượng thủy sản nuôi 137.500 tấn và sản lượng khai thác 92.500 tấn.

Để đạt được các chỉ tiêu này, theo Sở Nông nghiệp và PTNT, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, trong đó nhóm giải pháp về quy hoạch và nhóm giải pháp kỹ thuật là quan trọng nhất. Cụ thể, trong năm 2014, ngành Nông nghiệp sẽ tiếp tục thực hiện các quy hoạch ngành và sản phẩm ngành, các đề án, dự án, chương trình; tổ chức triển khai sau khi được cấp thẩm quyền phê duyệt. Xây dựng Kế hoạch hành động của ngành thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trình phê duyệt và triển khai thực hiện.

Đối với cây lúa, giảm dần diện tích lúa 3 vụ ở các vùng thiếu nước, ảnh hưởng lũ (trước mắt chuyển dịch khoảng 10.000 ha gieo trồng lúa sang trồng các loại màu thực phẩm, bắp, đậu nành, luân canh lúa cá, lúa tôm…). Diện tích lúa còn lại duy trì xuống giống lúa tập trung, né rầy; tiếp tục áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như: 3 giảm, 3 tăng; 1 phải 5 giảm; công nghệ sinh thái; cơ giới hóa trước, trong và sau thu hoạch. Tiếp tục triển khai các mô hình Cánh đồng mẫu sản xuất lúa theo tiêu chuẩn GAP, tổ chức mở rộng khi kết nối các doanh nghiệp. Áp dụng biện pháp quản lý cây ăn trái tổng hợp theo hướng GAP, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhân rộng mô hình áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước. Từng bước chuyển chăn nuôi gia súc, gia cầm nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung. Hướng dẫn chăn nuôi nông hộ theo hình thức công nghiệp áp dụng kỹ thuật và công nghệ phù hợp để vừa tạo cơ hội sinh kế cho nông hộ vừa hạn chế dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Tập trung sản xuất thâm canh đối với các đối tượng nuôi thủy sản chủ lực (tôm, nghêu, cá tra,…); tiếp tục đa dạng hóa các đối tượng nuôi, chú ý phát triển nuôi theo hướng luân canh, xen canh thủy sản lúa phù hợp với điều kiện canh tác của từng vùng. Khai thác có hiệu quả nguồn lợi thủy sản và phát triển đánh bắt xa bờ bảo đảm phát triển bền vững; xây dựng các tổ đội sản xuất trên biển. Tiếp tục tuyên truyền cho ngư dân hiểu biết Công ước Quốc tế về biển, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về biển Đông…

Ngoài ra, theo dõi tình hình diễn biến khí tượng, thủy văn; có phương án cụ thể phòng chống lũ, bão; thường xuyên kiểm tra các công trình thủy lợi và có giải pháp xử lý kịp thời. Tiếp tục triển khai công tác thủy lợi nội đồng. Tổ chức vận hành hợp lý các công trình thủy lợi và có thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin để nông dân chủ động trong sản xuất. Tiếp tục đầu tư củng cố, bảo vệ và nâng cấp đê biển. Tiếp tục chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ cho nông dân ứng dụng trong sản xuất. Tăng cường công tác kiểm tra an toàn kỹ thuật tàu cá; khuyến khích ngư dân trang bị các thiết bị hàng hải, thông tin liên lạc, máy khai thác để hoạt động an toàn và khai thác có hiệu quả,…

Thành Công
Books